Chiều nào cũng đến đây lấy bã về chăn nuôi
Mỗi ngày vợ chồng ông lãi được 300. 000 “Để làm được những thanh đậu phụ này. Khách mua tàu hũ của ông không chỉ người lao động nghèo. Không chỉ người trong xóm.
Tui bảo. Người dân Diễn Châu giã từ với đậu phụ thạch cao.
Ông Thưởng san sẻ. Từ giã màu áo lính. Mà cả những người “dư tiền lắm bạc” ở phường khác cũng tìm tới. Ngày nối ngày. Tiếng lành đồn xa. Vớt bọt sôi sùng sục. Mặc cả ở những xã khác cũng tới mua về ăn. Việc trước tiên phải phơi hạt đỗ sao cho thật khô. Trên cái nóng hừng hực của than củi và hơi nước. Khiến đậu luôn ráo và dẻo; vải bọc phải là thứ vải phin.
Chẳng nhẽ mình chịu đói nghèo mãi? “Bao đêm trằn trọc suy nghĩ. Làm bán cho láng giềng được rồi”. “Đậu phụ sạch” phục vụ người dân Vợ chồng ông Thưởng - bà Nguyệt chọn phường 11 Vũng Tàu để phát triển nghề đậu phụ từ năm 2009. Các con tui có nhà cửa. Nước quá trong sẽ hao và cứng đậu.
Lúc đó tui nói với bà nhà tui. Sữa đậu sánh lại thì cho vào khuôn ép. Nhưng đòi hỏi chịu thương chịu khó và khéo tay. Chủ nhật. Mình vay vốn mở xưởng đậu phụ. Khâu chế nước chua là quan yếu nhất vì nó quyết định phần nhiều chất lượng đậu.
Ông Thưởng vơ chiếc áo khoác vội lên người đon đả: “Chú mua đậu phụ à. Cuộc sống ổn định cả rồi. Nhìn đẹp mắt. Nghề này như một cái duyên. Tiếng lành vang xa. Bà Nguyệt cho biết. Mà bán ngay tại nhà. Người dân bây giờ tinh lắm. Ngọn đèn ne-on không đủ sáng bởi phản chiếu của màu mồ hóng đen kịt hắt xuống từ mái nhà.
Khi người dân khu phố đang nồng thắm trong giấc ngủ. Chọn những hạt đều nhau. Làm gì để thoát nghèo khi trong tay không có nghề gì ngoài nghề làm đậu phụ truyền từ đời ông nội. Thì ông bà thức dậy lục sục vo 25 kilogram đậu.
Còn nóng. Trong khi nhiều người làm đậu phụ bỏ hàn the hoặc thạch cao cho chắc. Một thứ gỗ chịu nước rất tốt. Về ăn được luôn”. Đậu phụ làm ra nhiều nhưng nếu chỉ bán cho người dân làm muối và đi biển ở xóm thì chẳng thấm tháp gì.
Nhiều người đã bắt chước làm theo ông. Vợ chồng tôi phải dậy từ lúc 2 giờ sáng và lục đục cả đêm. Phường 11. Lính mua nhiều lắm chú”. Từ những đồng bạc lãi chắt chiu góp lại. Họ đến mua đậu phụ của ông Thưởng ngày càng nhiều. Hoặc hàn the vào. Tôi không làm được việc đó. Bìa đậu phục chắc. Không làm giàu nhưng kiếm cơm thì “dư xăng” - ông ngoảnh lại tỏ bày.
“Lờ lờ nước hến” thì đậu sẽ bị nhão. Một chiều cuối tuần tôi ghé nhà của ông Thưởng mua tàu hũ. Ông Thưởng bắt đầu tạo thương hiệu bằng cách “Đậu phụ không hàn the”. Có vỏ mỏng vàng. 24 giờ. Mà muốn đem thương hiệu “đậu phụ sạch” của mình phục vụ người dân. Đầu năm 2002.
Nhưng họ ăn sẽ nhớ đến mình” - ông Thưởng cho biết. Trừ tổn phí nhưng hoài lớn nhất có lẽ là giấc ngủ.
Nhưng ăn vào ảnh hưởng tới sức khỏe. Nói là “xưởng đậu phụ” nhưng thực ra chỉ con cháu trong nhà làm thôi. Mà mình đâu chỉ bán cho người trong xã.
Người giỏi nghề là người nhìn màu nước chua có thể biết đậu ngon hay không. Vũng Tàu - chia sẻ
Đẹp. 4 tiếng và 300. “Cho thạch cao. Ông Thưởng trả hết nợ nần. Diễn Châu (Nghệ An). Người trong tỉnh nữa chứ. Loại bỏ hạt lép. Nhẵn bóng. Vừa ép xong. “Nếm mật nằm gai” trên đất bạn Campuchia và mặt trận biên thuỳ Tây Nam. Hạt thối. Và chạnh lòng tôi ước. Đãi vỏ cho vào cối xay. Một đôi “bí quyết” để có bìa đậu ngon cũng được bà Nguyệt nhắc tới.
Thì ông “nói không với phụ gia”. Tuy không giàu nhưng làm được nhà cao cửa rộng” - vợ chồng ông Đặng Đình Thưởng và bà Hoàng Thị Nguyệt - 12 năm mưu sinh bằng nghề làm đậu phụ.
000 đồng. Trắng. Ngược lại. Còn bà Nguyệt thì cười hà hà: “Chú biết chú Hiển không? Chú ấy cũng quân nhân hải quân. Thạch cao cho đậu phụ đông cứng nên họ đã “đốt cháy giai đoạn”. Nhiề u bữa muốn ốm nhưng không dám nghỉ. Rồi chung cục bài toán thoát nghèo cũng mở ra. Vậy là tui vay tiền mua máy xay đậu và bắt đầu kinh dinh. Công nhân. Nghe bà nói với một vẻ say sưa. “Có người tham làm giàu bỏ hàn the.
Trong xã. Ở 72 đường Đô Lương. Đôi mắt ông giãn ra trong nóng nực “Nghề này không khó làm. Tay cầm đũa cả dùng sức khuấy. Mọi người làm ra miếng ăn cho đồng loại trên địa cầu này có tấm lòng như thế.
Nhưng đối với ông Thưởng là “chuyện nhỏ”. Thường thì màu vàng nhạt là ngon. Khói ngùn ngụt từ bếp lò làm tôi cay chảy nước mắt. “Sản phẩm của mình phải có vị trí trên thương trường”. Thấy tôi mặc binh phục hải quân.
Tôi hiểu trong những bìa đậu phụ thơm mềm ông bà đổ mồ hội làm ra mỗi ngày có cả tấm lòng hiền hậu thương xót. Sau khâu pha chế này. Ăn cá nhiều cũng chán. Bài toán thoát nghèo… của người lính Sau 29 năm trong quân ngũ. “Không phải chúng tui “lăn lưng” để kiếm miếng cơm manh áo như thời trước nữa.
Tui cũng muốn tự do”. Có tiền cho con học đại học. Đó là khuôn ép đậu phải làm bằng gỗ dổi. Ông Thưởng đổ tào phở vào khuôn. Phải bán cho cả huyện. Ông Thưởng về Diễn Hạnh. TP. Mặc cho bà ấy phản đối”. Chiếc khăn lau mặt luôn trực trên vai không kịp khô. Cũng là lúc trời rạng sáng. Những bìa đậu phụ vừa ép trong khuôn nóng hổi.
Chăm chút con người hết sức đáng trân trọng. Hai chân chạng vững. Thấy ông “ăn nên làm ra” từ nghề đậu phụ. Vì bìa đậu không hàn the mềm thơm nên đậu phụ của ông lúc nào cũng đắt như tôm tươi và ít khi phải đem đi chợ bán. Căng mắt nhìn vào nồi đậu phụ bốc hơi ngùn ngụt. Ngày rằm ông làm già 75kg đậu tương hạt nhưng cũng không đủ để bán cho khách. Xây được nhà mái bằng.
Thứ bảy. Bởi mặt ông lúc nào cũng nhễ nhại mồ hôi. Tạo thành các bìa đậu. Đậu có hàn the ăn chát mà rước bệnh vào người” - ông Thưởng cho biết. Bà ấy bĩu môi “Dân Diễn Châu đi biển ăn cá chứ ai ăn tào phở đâu mà anh làm nhiều.
Thà mình hài lòng bán chậm.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét